Hi-res giả là gì
File hi-res lẽ ra phải chứa nhiều hơn chất lượng CD: sample rate cao hơn, nhiều bit hơn, hoặc cả hai. File giả có con số lớn trong header nhưng bên trong chẳng có gì thêm. Có ba loại, và mức độ không giống nhau:
| Bạn nhận được | Thật ra là | Mức độ |
|---|---|---|
| WAV 24-bit, bị cắt ở khoảng 16–20 kHz | Làm từ MP3 | Tệ: dải cao mất hẳn |
| File 96 kHz dừng gắt ở khoảng 22 hoặc 24 kHz | Nguồn 44,1 hoặc 48 kHz được chuyển lên | Nghe như bản gốc, chỉ nặng hơn |
| File 24-bit làm từ nguồn 16-bit | Độn thêm bit rỗng | Nghe như bản gốc, chỉ nặng hơn |
Loại đầu tiên mới là thứ DJ cần lo. Nó nghe đục trên dàn lớn, mà cái đuôi WAV lại khiến bạn tin nó. Hai loại kia tốn ổ cứng và có khi tốn tiền, nhưng khán giả sẽ không bao giờ nghe ra khác biệt.
Vì sao cửa hàng và nguồn nhạc có những file như vậy
Phần lớn không ai cố tình lừa. Chỉ là ai đó trong chuỗi phát hành đã chuyển định dạng:
- Khâu phát hành thường đòi WAV 24-bit, nên bản master 16-bit được chuyển lên cho đủ yêu cầu.
- Một số cửa hàng chuyển định dạng lúc bạn tải, từ bản master họ đang giữ: chọn WAV 24-bit có khi nhận về một bản chuyển đổi.
- Bản edit, bootleg, remix hay được làm từ bản MP3 của bài gốc, rồi xuất từ phần mềm làm nhạc ra 24-bit.
- Bài cũ chỉ còn giữ được bản nén, được phát hành lại dưới dạng WAV.
- Một sample hay giọng hát lấy từ file nén nằm trong bản phối sạch sẽ để lại vết cắt cục bộ ở những đoạn nó vang lên.
- Người bán lại, nhóm chia sẻ chuyển định dạng cho file trông "xịn".
Dấu hiệu trên ảnh phổ

Mở file bằng phần mềm nào có ảnh phổ, để trục tần số tuyến tính nếu được, rồi nhảy tới đoạn dày nhất của bài.
- Biết trần lẽ ra nằm ở đâu. Một file chứa được âm thanh tới một nửa sample rate của nó: 22 kHz với 44,1 kHz, 24 kHz với 48 kHz, 48 kHz với file 96 kHz. Ảnh phổ phải chạy tới tận vạch đó.
- Dấu vân tay của MP3. Một bức tường phẳng đâu đó trong khoảng 16–20 kHz, cùng một độ cao từ đầu tới cuối bài, nghĩa là đã có một bản MP3 trong chuỗi, bit depth ghi gì cũng vậy. Bảng bitrate trong cách kiểm tra MP3 320 kbps thật hay giả cho biết đại khái là bitrate nào.
- Dấu vân tay của chuyển sample rate lên. Âm thanh lên tới khoảng 22 kHz (một nửa 44,1) hoặc 24 kHz (một nửa 48) rồi rơi thẳng như vách đá, phía trên là một dải trống gần như đen kịt tới tận đỉnh ảnh. Vách đó chính là mép của bộ lọc lúc chuyển đổi.
- Hi-res thật thường trông thế nào. Có chút năng lượng mờ, không đều phía trên 22 kHz, từ tiếng lấp lánh của cymbal, họa âm của synth hay tiếng nhiễu, nhạt dần chứ không dừng ở một đường thẳng như kẻ thước.
- Vết cắt cục bộ. Nếu mốc cắt chỉ xuất hiện ở vài đoạn, chẳng hạn lúc một giọng hát hay một sample vang lên, thì phần đó đến từ file nén. Phần còn lại của bài có thể vẫn ổn.
Lưu ý: chỉ riêng dải trên trống thì chưa đủ để kết luận. Có những bản thu thật gần như không có gì ở vùng đó. Dấu hiệu tố cáo là một mép cứng, thẳng, nằm đúng ở một trong mấy tần số quen thuộc kể trên.
Còn bit depth thì sao
Ảnh phổ gần như không cho thấy bit depth. Nguồn 16-bit độn lên 24-bit chỉ đơn giản là 8 bit cuối toàn số 0, thứ chỉ công cụ phân tích từng bit mới lộ ra; còn nếu lúc chuyển có chỉnh âm lượng hay thêm dither thì dấu vết đó cũng biến mất.
Tin tốt là trường hợp này không làm âm thanh kém đi chút nào. Để phát nhạc, 16-bit là đủ, như đã giải thích trong sample rate và bit depth cho DJ. Đừng trả thêm tiền cho nó, nhưng cũng không cần mất ngủ.
Gặp file hi-res giả thì làm gì
- Kiểm ngay sau khi mua, khi còn đòi hoàn tiền hay đổi file được.
- Liên hệ cửa hàng hoặc label kèm ảnh chụp ảnh phổ và tần số mốc cắt. Nhiều nơi sẽ thay file cho bạn.
- Tìm nguồn chính thức khác, như cửa hàng riêng của label hay bản promo.
- Nguồn từ MP3 mà vẫn cần dùng? Đổi tên hoặc ghi tag để nhớ, và để nó ra khỏi thư mục bạn chơi trên dàn lớn.
- Chuyển lên từ chất lượng CD? Nó nghe y như bản gốc. Cứ giữ, hoặc chuyển về 44,1 hay 48 kHz cho nhẹ ổ.
- Đừng cố "sửa". Chuyển đổi thêm lần nữa hay thêm hiệu ứng làm sáng dải cao không mang bản gốc trở lại; nó chỉ vẽ thêm tiếng mới, giả tạo.
Câu hỏi thường gặp
WAV 24-bit có luôn tốt hơn MP3 320 kbps không?
Không. WAV 24-bit làm từ MP3 128 kbps còn tệ hơn MP3 320 kbps thật. Cái vỏ chỉ thêm dung lượng, không thêm chất lượng.
Vì sao bài 96 kHz của tôi trên 22 kHz trống trơn?
Nhiều khả năng bài được làm hoặc master ở 44,1 kHz rồi mới chuyển lên 96 kHz. Nó nghe y hệt bản 44,1 kHz mà tốn chỗ gấp hơn hai lần.
Nghe bằng tai có nhận ra hi-res giả không?
Loại làm từ MP3 thì đôi khi: nghe kỹ hi-hat và cymbal bằng tai nghe tốt. Loại chuyển lên từ chất lượng CD hay độn từ 16-bit thì không, vì chẳng có gì nghe được bị mất. Vì vậy ảnh phổ mới là công cụ đúng.
Có giống FLAC giả không?
Cùng một ý, khác cái vỏ. FLAC chỉ là âm thanh chất lượng WAV được nén gọn hơn, nên các dấu hiệu y như nhau. Xem cách nhận ra FLAC giả.
Làm nhanh với Taxonomy DJ
Soi chất lượng file trong Taxonomy DJ bắt được trường hợp đáng lo và cho bạn thấy phần còn lại:
- Kéo file WAV, AIFF hoặc FLAC vào tab Soi File, hoặc bấm Chọn file trên máy. Không có gì bị thêm vào thư viện.
- Hi-res làm từ MP3: khi file lossless có trần tần số thấp rõ rệt và dừng ở một mép sắc, mục Nhận định chất lượng hiện dòng đỏ Buff sóng ảo kèm chất lượng gốc ước lượng, ví dụ khoảng 128 kbps. File làm từ MP3 bitrate cao hơn vẫn hiện trần tần số và ước lượng như khoảng 320 kbps, để bạn tự cân nhắc.
- Sample rate được chuyển lên: ứng dụng không coi đây là buff sóng ảo, vì không có âm thanh nào bị mất và nguồn vẫn là lossless. Nhưng bạn tự thấy được: thẻ Âm thanh ghi sample rate, mục Nhận định chất lượng ghi trần tần số, còn ảnh phổ chạy tới tận trần dải tần của file. File 96 kHz có trần tần số quanh 22 kHz là đến từ nguồn 44,1 kHz.
- Bit depth: thẻ Âm thanh ghi độ sâu bit mà file khai. Ứng dụng không kiểm các bit dư có chứa gì hay không.
Miễn phí ở mọi gói. Thả vào mấy file "hi-res" bạn mua gần đây xem bên trong thật sự có gì.
Đọc tiếp: sample rate và bit depth cho DJ và cách đọc ảnh phổ.